[착한뉴스] 22화 외국인노동자 임금 체불/<불법 체류 외국인=범죄자'라는 인종혐오>

Ep.22 착한뉴스

▷진행자 : 히엔(Hien), 은진

 

히엔 : 안녕하세요? 착한 뉴스에 오신 걸 환영합니다. 히엔과 은진입니다.
은진 : Chào mừng các bạn đến với Tin tức tốt lành. Chúng mình là Hiền và Eunjin.
히엔 : 여러분께 재미있고 유용한 정보들을 전달 드릴 수 있도록 노력하겠습니다.
은진 : Chúng mình sẽ cố gắng để gửi đến các bạn những thông tin thú vị và bổ ích.

>> 시사

히엔: 첫 번째 코너로는 최근 소식을 알려 드리는 시사코너입니다.
은진: Đầu tiên là Góc Thời sự, thông tin về những sự kiện gần đây.

 

*

은진: 광남일보 10월 17일 보도의 고용노동부 자료에 의하면, 2019년 8월 말 기준, 외국인노동자 임금 체불이 797억 원에 달했으며 연말이면 1,000억 원을 초과할 것으로 보인다고 합니다. 한편 노동부는 매해 일정 비율로 외국인 고용 사업장을 점검하고 있는데 2017년부터 2019년 8월까지 7,918개 사업장을 점검한 결과 16,802건의 법 위반 사항을 적발했습니다. 이 중 외국인근로자의 고용 등에 관한 법률에 의거하여 고용허가를 제한한 경우는 257건으로 1.5%에 불과했고 89.3%는 시정조치를 한 것으로 집계되었습니다. 현재 외국인 근로자 고용법은 사용자가 입국 전에 계약한 임금 또는 그 밖의 근로조건을 위반하는 경우나 사용자의 임금 체불 또는 그 밖의 노동관계법 위반 등으로 근로 계약을 유지하기 어렵다고 인정되는 경우 해당 사업장에 고용 허가를 취소하고 3년간 외국인 근로자 고용을 제한할 수 있습니다.
히엔: Tin ngày 17/10 của Nhật báo Gwangnam, theo tài liệu của Bộ Lao động và Tuyển dụng Hàn Quốc, tính đến cuối tháng 8 năm 2019 thì số tiền lương nợ của lao động người nước ngoài đã lên tới 79,7 tỷ won và dự đoán con số này sẽ vượt quá 100 tỷ won vào cuối năm nay. Mặt khác, hằng năm Bộ Lao động vẫn kiểm tra các cơ sở kinh doanh tuyển dụng người nước ngoài theo tỉ lệ nhất định và từ năm 2017 đến tháng 8 năm 2019, kết quả kiểm tra 7.918 cơ sở kinh doanh, phát hiện 16.802 nội dung phạm luật. Trong số này chỉ có 257 trường hợp hạn chế cho phép tuyển dụng theo luật pháp liên quan như Luật tuyển dụng lao động người nước ngoài, tức là chỉ 1.5%, còn 89.3% là xử lý sửa đổi khắc phục. Theo Luật tuyển dụng lao động người nước ngoài, trường hợp chủ sử dụng vi phạm về tiền lương hoặc các điều kiện lao động khác đã ký kết trong hợp đồng trước khi người lao động nhập cảnh vào Hàn Quốc, trường hợp chủ sử dụng được công nhận là khó tiếp tục hợp đồng lao động vì nợ lương hoặc vi phạm khác về Luật quan hệ lao động, thì có thể hủy giấy phép tuyển dụng và hạn chế tuyển dụng lao động người nước ngoài trong 3 năm.

 

**

은진: 오늘은 외국인 체류 제도와 관련해 쓴 미류 인권운동사랑방 상임활동가
<불법 체류 외국인=범죄자’라는 인종혐오>라는 제목의 사설을 간추려 읽어드리겠습니다.

사람들은 ‘불법 체류’라는 말에서 범죄의 냄새를 맡는다. 적법한 체류 자격을 허가받지 못한 상태를 이르는 말이지만 이미 범죄를 저질렀거나 저지르기 위해 숨어지내는 얼굴 없는 사람을 떠올린다. 외국인 범죄율이 내국인 범죄율보다 상당히 낮다는 점, 그중에서도 ‘불법 체류’ 상태의 외국인은 ‘합법 체류’ 상태의 외국인보다 범죄율이 더 낮다는 점을 통계가 아무리 증명해도 사람들의 편견은 쉽게 사라지지 않는다. 유엔 인종차별철폐위원회나 국가인권위원회 모두 용어를 ‘미등록 체류’로 바꾸도록 권고하고 있다. 법무부 역시 영어로는 ‘undocumented (미등록)’이라고 표기한다. 하지만 한글로는 존재 자체가 불법인 것처럼 들리는 ‘불법 체류’라는 이름을 고수하고 있다.
히엔: Tiếp theo chúng mình xin lược đọc một bài viết của nhà hoạt động nhân quyền Mi-ryu, ủy viên thường trực của tổ chức Phòng khách Vận động Nhân quyền. Bài viết có tiêu đề “Sự thù ghét chủng tộc, người nước ngoài cư trú bất hợp pháp = Tội phạm”.
Người ta ngửi thấy mùi phạm tội trong cụm từ “cư trú bất hợp pháp”. Cụm từ này chỉ trạng thái không được cấp tư cách cư trú hợp pháp nhưng thường gợi lên hình ảnh những con người không có khuôn mặt, phải lẩn tránh vì đã phạm tội hoặc để phạm tội. Việc tỉ lệ phạm tội của người nước ngoài thấp hơn người Hàn Quốc, trong đó tỉ lệ phạm tội của người nước ngoài “cư trú bất hợp pháp” thấp hơn người nước ngoài “cư trú hợp pháp”, dù có chứng minh bằng thống kê bao nhiêu đi chăng nữa thì định kiến của con người không dễ gì mất đi. Ủy ban Xóa bỏ Phân biệt Chủng tộc của Liên Hợp Quốc đã khuyến cáo thay các thuật ngữ thành “cư trú chưa đăng ký”. Bộ Tư pháp Hàn Quốc tất nhiên là biểu thị “undocumented (chưa đăng ký)” bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, trong tiếng Hàn thì vẫn cố thủ cái tên “cư trú bất hợp pháp” – nghe kiểu như chính sự tồn tại là bất hợp pháp.

은진: 사회재난이 발생하면 국가나 지방자치단체는 현장에서 구호 물품을 지급한다. 미등록 체류 이주민이라고 구호 물품이 필요 없을 리가 없다. 그러나 ‘사회재난 구호 및 복구 업무 편람’은 “불법 체류자 제외”를 명시한다. ‘재한외국인 처우 기본법’은 “대한민국 국민과 재한외국인이 서로를 이해하고 존중하는 사회 환경”을 만들겠다면서 “재한외국인”을 “합법적으로 체류하고 있는 자”로 한정한다. 재난 현장에서도 버림받는 미등록 체류 이주민이 자신이 겪는 괴롭힘이나 학대, 노동 착취, 인권 침해를 호소할 수 있을까? 이들은 범죄피해를 입었을 때에도 범죄피해자지원센터에서 아무런 도움을 받을 수 없다.
히엔: Nếu xảy ra thảm họa thì quốc gia hoặc đoàn thể tự trị địa phương sẽ cung cấp các vật phẩm cứu trợ đến hiện trường. Không có chuyện vì là người di trú cư trú chưa đăng ký nên không cần vật phẩm cứu trợ. Thế nhưng “Sổ hướng dẫn cứu trợ và phục hồi thảm họa” đã viết rõ “ngoại trừ người cư trú bất hợp pháp”. “Luật cơ bản đãi ngộ người nước ngoài tại Hàn Quốc” nói sẽ tạo nên một môi trường xã hội mà “quốc dân Đại Hàn Dân Quốc và người nước ngoài sống tại Hàn Quốc cùng hiểu và tôn trọng lẫn nhau”, trong khi hạn định “người nước ngoài tại Hàn” là “người đang cư trú hợp pháp”. Người di trú cư trú chưa đăng ký, ngay tại hiện trường thảm họa cũng bị bỏ rơi, thì liệu có thể kêu lên những khó khăn cực khổ, ngược đãi, bóc lột lao động, xâm phạm nhân quyền mà bản thân gặp phải không? Những người này dù là bị hại của tội phạm nào đó cũng không thể nhận giúp đỡ nào từ trung tâm hỗ trợ người bị hại.

은진: 2018년 말 한국에 거주하는 ‘불법 체류’ 이주민은 355,126명. 이 중 가장 많은 수가 고용허가제(E-9, 비전문취업)로 입국한 노동자들이다. 한국에서 기업들이 ‘노동력 수입’을 요구하기 시작한 것은 80년대 후반부터다. 임금 인상 압력을 회피하기 위해 중소제조업 및 건설업에서 이주노동자에 대한 수요가 커졌다. 정부는 차츰 이들의 요구를 수용하여 산업연수생제도를 도입했고, 수많은 인권침해 논란 끝에 2004년 고용허가제가 시행된다. 이렇게 입국하는 이주노동자들에게는 사업장 이동이 원칙적으로 금지된다. 사용자는 일방적으로 계약을 해지할 수 있으나 노동자는 그럴 수 없다. 체류자격이 위협받기 때문이다. 임금체불, 상습적 폭언, 폭행, 성폭력 등을 당해도 사업장 변경이 쉽지 않고, 법정 사유에 한해 3회까지 허용된 사업장 변경 신청 역시 기간의 제한으로 체류 자격 유지가 위태롭다. 사용자를 위해 설계된 제도가 ‘불법 체류’를 양산하고 있다.
히엔: Cuối năm 2018, số người di trú “cư trú bất hợp pháp” đang sống ở Hàn Quốc là 355.126 người. Trong số này thì nhiều nhất là những người lao động nhập cảnh theo Chế độ cho phép tuyển dụng (visa E9, lao động không chuyên). Các doanh nghiệp ở Hàn Quốc bắt đầu yêu cầu “nhập khẩu nguồn lao động” từ nửa cuối thập niên 80. Để tránh áp lực tăng lương, nhu cầu lao động di trú ở các công ty sản xuất vừa và nhỏ, các công ty xây dựng lớn dần. Chính phủ dần dần tiếp nhận yêu cầu này và đưa vào Chế độ Tu nghiệp sinh Công nghiệp, nhưng sau rất nhiều tranh cãi về vấn đề xâm hại nhân quyền, từ năm 2004, Chế độ Cho phép Tuyển dụng đã được thi hành. Những lao động di trú nhập cảnh theo chế độ này về nguyên tắc là bị cấm chuyển chỗ làm việc. Chủ sử dụng có thể đơn phương hủy hợp đồng nhưng người lao động thì không thể như vậy. Là bởi vì bị uy hiếp về tư cách cư trú. Dù bị nợ lương, mắng chửi thường xuyên, bạo hành, bạo lực tình dục, v.v. cũng không dễ thay đổi nơi làm việc. Việc đăng ký xin phép thay đổi nơi làm việc đến tối đa 3 lần theo luật định với lý do pháp định cũng khiến việc duy trì tư cách cư trú gặp nguy hiểm do những hạn chế về thời gian.
은진: 내보내야 하는 사람이라는 이유로 생명마저도 내버려 진다. ‘불법 체류’는 또 다른 죽음의 이유가 되기도 한다. 2007년 여수 출입국관리사무소 화재 사건은 이주노동자들의 도주를 우려해 이중 잠금장치를 바로 열지 않은 탓에 희생자가 늘어났고, 2017년에는 한국인 남성이 “단속을 피해 안전한 곳에 데려다주겠다”며 여성 이주노동자를 성폭행 시도하고 살해한 사건도 있었다. 국가는 제도를 통해 ‘불법 체류’를 만들어내고 이주노동자들은 ‘불법’이라는 이름으로 무권리 상태에 갇혀버린다. 일하다가 다치거나 목숨을 잃는 비율이 한국 국적의 노동자보다 높은 것도 놀랄 일이 아니다.

히엔: Vì là những người cần phải đuổi đi, đến cả sinh mệnh của họ cũng bị vứt bỏ. “Cư trú bất hợp pháp” cũng lại là một lý do khác của cái chết. Sự cố hỏa hoạn ở Văn phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Yeosu năm 2007, vì lo sợ người lao động di trú bỏ trốn, các nhân viên đã chậm trễ trong việc mở khóa, dẫn đến việc gia tăng số người chết và bị thương. Năm 2017 đã xảy ra vụ án một người đàn ông Hàn Quốc dụ dỗ một nữ lao động di trú rằng “Sẽ đưa đến nơi an toàn, tránh truy bắt (của nhân viên xuất nhập cảnh)”, sau đó cưỡng hiếp rồi giết chết cô. Chính phủ Hàn Quốc đã tạo ra “cư trú bất hợp pháp” thông qua các chế độ và rồi giam cầm người lao động di trú trong trạng thái không quyền lợi với cái tên “bất hợp pháp”. Tỉ lệ bị thương hoặc mất mạng khi làm việc của họ cao hơn nhiều so với lao động quốc tịch Hàn Quốc là điều không có gì đáng ngạc nhiên.

은진: 작년 7월 한 청년이 건설 현장에서 아르바이트를 하다가 단속반원에게 집단폭행을 당했다. 그는 대학원 유학생이었으나 법무부에는 잠재적 ‘불법 체류자’였을 뿐이다. ‘저출산 고령화’ 시대의 ‘생산인구 감소’를 걱정하는 국가는 ‘우수 외국 인재’를 유치하기 위해 다양한 방안을 모색 중이다. 그런데 유학생 유치를 확대하기 위한 대학 인증제에서도 ‘불법 체류율 1% 미만’을 필수지표로 내걸고 있다. 이주정책 개방을 꾀하면서도 권리를 가두려는 의지는 굳건하다. 다양한 나라에서 다양한 이유로 다양한 사람들이 한국에 오지만 ‘재한외국인 처우 기본법’은 체류자격으로 ‘유학, 연수, 투자, 주재, 결혼’만을 명기한다. ‘이주노동자’는 아직 한국 사회에 온전히 등장하지도 못한 셈이다. ‘이주노동자의 권리’가 먼 얘기일 수밖에 없다.
히엔: Tháng 7 năm ngoái, một thanh niên đang làm thêm ở công trường xây dựng thì bị bạo hành tập thể bởi đội truy quét (của cục xuất nhập cảnh). Cậu thanh niên đó là sinh viên sau đại học nhưng với Bộ Tư pháp thì chỉ là “Người cư trú bất hợp pháp” tiềm năng. Đất nước lo lắng về tình trạng “giảm dân số sản xuất” trong thời đại “tỉ lệ sinh thấp và già hóa” và đang tìm kiếm nhiều phương án đa dạng để thu hút “nhân tài ngoại quốc ưu tú”. Thế nhưng ngay cả ở chế độ công nhận đại học nhằm tăng cường thu hút du học sinh cũng đặt ra tiêu chí bắt buộc “tỉ lệ cư trú bất hợp pháp không quá 1%”. Vừa xúc tiến mở cửa chính sách di trú, vừa ngoan cường cái ý chí muốn chôn vùi quyền lợi. Những con người khác nhau, từ những quốc gia khác nhau, đến Hàn Quốc với những lý do khác nhau nhưng Luật cơ bản đãi ngộ người nước ngoài tại Hàn Quốc chỉ phân loại rõ theo tư cách lưu trú “du học, đào tạo (học tiếng), đầu tư, thường trú (doanh nghiệp), kết hôn”. Có thể xem cụm từ “người lao động di trú” vẫn chưa thể xuất hiện một cách hoàn toàn đúng nghĩa trong xã hội Hàn Quốc. Thế nên “quyền lợi của người lao động di trú” không thể không là một câu chuyện xa vời.

은진: 지구상 어느 나라에서나 이주민은 ‘내국인 일자리 빼앗는’ 존재로 취급된다. 저임금 일자리는 이주노동자가 원하는 것이 아니라 기업의 요구일 뿐이다. 기업은 무권리 노동자를 원한다. 기업의 요구에 부응하기 위해 국가는 체류자격을 촘촘히 구분하고 취업을 제한하며 권리의 박탈을 정당화한다. 일자리에 대한 기대가 ‘일할 만한 자리’에 대한 기대이기도 하다면, ‘내국인 일자리 빼앗는’ 것은 이주노동자가 아니다. ‘내국인 일자리 보호’를 내세우며 권리를 제한할 명분을 만들어주는 국가가 일할 만한 자리를 없애고 있다. ‘불법 체류’는 이주노동자의 권리만 가두는 것이 아니라 노동의 권리 자체를 가두고 있다.
히엔: Ở bất cứ đất nước nào trên trái đất này thì người di trú cũng bị coi là tồn tại “cướp đi việc làm của quốc dân (nước đó)”. Những công việc lương thấp không phải điều người lao động di trú mong muốn mà chỉ là yêu cầu của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp muốn những người lao động không quyền lợi. Để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, quốc gia phân loại chi li tư cách cư trú, hạn chế sự tìm việc làm và chính đáng hóa việc tước đoạt quyền lợi. Nếu kỳ vọng về việc làm cũng là trông mong một “chỗ đáng làm”, thì việc “cướp chỗ làm của quốc dân” không phải là người lao động di trú. Là quốc gia, dựng nên việc “bảo hộ việc làm cho quốc dân” và làm ra danh phận giới hạn quyền lợi, đang làm mất đi những chỗ đáng làm. “Cư trú bất hợp pháp” không chỉ chôn vùi quyền lợi của người lao động di trú mà còn chôn vùi chính quyền lợi của người lao động.

은진: 체류자격으로 인간의 자격을 가르는 현행 제도는 개선되어야 한다. 열악한 노동조건을 정당화하기 위해 체류자격을 만들어내는 체제에 맞서려면 투쟁 또한 구분을 너머서야 한다. 노동자의 권리 자체를 위해 싸워야 이주노동자의 권리도 실현될 수 있다. 동시에 이주노동자의 권리가 제한되거나 무너지는 것에 함께 맞서야 노동자의 권리를 지킬 수 있다.
히엔: Chế độ hiện hành phân loại tư cách con người theo tư cách cư trú cần phải được cải thiện. Để đối đầu với thể chế tạo ra tư cách cư trú nhằm chính đáng hóa các điều kiện lao động khắc nghiệt thì việc đấu tranh phải vượt lên trên sự phân chia. Phải đấu tranh vì chính quyền lợi của người lao động thì quyền lợi của người lao động di trú mới có thể hiện thực hóa. Đồng thời, phải chiến đấu với sự giới hạn hoặc xâm hại về quyền lợi của người lao động di trú thì mới có thể bảo vệ được quyền lợi của người lao động nói chung.

은진 : Chúng mình đã nghe một xã luận về chế độ tự cách lưu lại của người lao động di trú, cuối cùng chúng mình cùng nghe ca khúc 바람이 불어오는 곳 (Nơi gió thổi đến) của 김강석 và chào tạm biệt nhé.
이주노동자의 체류자격 제도에 관해 생각해보는 사설이였는데요, 끝으로 김광석의 바람이 불어오는 곳 듣고 인사나누겠습니다.
히엔 : Mong các bạn có thêm chút thông tin về người lao động di trú qua bài lược dịch vừa rồi của bọn mình. Các bạn có thể tham khảo nguyên văn bài viết của tác giả theo đường dẫn mình sẽ để lại trên trang chủ của chương trình. 좋은 시간이었길 바라고 청취해 주셔서 감사합니다. 담에 또 뵙겠습니다.
착한 뉴스입니다.
은진 : Cảm ơn các bạn đã lắng nghe chương trình của chúng mình. Hẹn gặp lại các bạn lần sau.
Chúng mình là Eunjin, Hiền của Tin tức tốt lành.

목록으로
메뉴, 검색 닫기